Tháng tiếng Anh: bảng 12 tháng, viết tắt, phiên âm và cách dùng in hay on

Trên trang này
- Bảng 12 tháng: tên, viết tắt, phiên âm
- Tên mỗi tháng đến từ đâu
- Vì sao September nghĩa là tháng bảy mà lại đứng thứ chín
- in January hay on January 5th
- Viết ngày tháng trong email, hợp đồng và lịch
- Cụm từ đi với tháng mà bạn sẽ gặp hằng ngày
- Nghe: bốn tháng đuôi -ber và cặp June với July
- Người học hay hỏi gì về tháng
Một đồng nghiệp nước ngoài nhắn: "Let us push the review to the first week of December." Bạn hiểu là tháng Mười Hai, ghi vào lịch, và ba tuần sau mới phát hiện mình đã nghe nhầm November thành December. Hai từ đó chỉ khác nhau ở một âm nằm giữa, và cái âm đó lại rơi vào chỗ tiếng Anh nói nhanh nhất.
Tên mười hai tháng là bài học vỡ lòng, ai cũng nghĩ mình xong từ lâu. Nhưng biết mặt chữ khác với viết đúng trong email, và cả hai đều khác với nghe ra được khi người kia nói trong một cuộc gọi có tiếng ồn.
Trang này gom đủ ba tầng đó: bảng mười hai tháng có viết tắt và phiên âm, gốc gác từng cái tên để bạn nhớ lâu hơn kiểu học vẹt, luật dùng giới từ và cách viết ngày tháng khỏi bị hiểu sai, rồi phần cuối dành cho những tháng dễ nghe hụt nhất.
- Bảng 12 tháng: tên, viết tắt, phiên âm
- Tên mỗi tháng đến từ đâu
- Vì sao September nghĩa là tháng bảy mà lại đứng thứ chín
- in January hay on January 5th
- Viết ngày tháng trong email, hợp đồng và lịch
- Cụm từ đi với tháng mà bạn sẽ gặp hằng ngày
- Nghe: bốn tháng đuôi -ber và cặp June với July
- Người học hay hỏi gì về tháng
Bảng 12 tháng: tên, viết tắt, phiên âm
Cột phiên âm ghi cả hai giọng khi chúng khác nhau đáng kể. Chỗ khác chủ yếu là âm /r/ cuối: giọng Mỹ phát ra, giọng Anh thì không.
| Tháng | Tiếng Anh | Viết tắt | Phiên âm IPA |
|---|---|---|---|
| Tháng 1 | January | Jan | /ˈdʒænjuəri/ (Anh), /ˈdʒænjueri/ (Mỹ) |
| Tháng 2 | February | Feb | /ˈfebruəri/ (Anh), /ˈfebrueri/ (Mỹ) |
| Tháng 3 | March | Mar | /mɑːtʃ/ (Anh), /mɑːrtʃ/ (Mỹ) |
| Tháng 4 | April | Apr | /ˈeɪprəl/ |
| Tháng 5 | May | May | /meɪ/ |
| Tháng 6 | June | Jun | /dʒuːn/ |
| Tháng 7 | July | Jul | /dʒuˈlaɪ/ |
| Tháng 8 | August | Aug | /ˈɔːɡəst/ |
| Tháng 9 | September | Sep hoặc Sept | /sepˈtembə/ (Anh), /sepˈtembər/ (Mỹ) |
| Tháng 10 | October | Oct | /ɒkˈtəʊbə/ (Anh), /ɑːkˈtoʊbər/ (Mỹ) |
| Tháng 11 | November | Nov | /nəʊˈvembə/ (Anh), /noʊˈvembər/ (Mỹ) |
| Tháng 12 | December | Dec | /dɪˈsembə/ (Anh), /dɪˈsembər/ (Mỹ) |
Ba điều rút ra được ngay từ bảng này.
May không có dạng viết tắt, vì bản thân nó đã ba chữ. June và July về lý thuyết viết tắt được thành Jun và Jul, nhưng trong văn bản người ta thường viết đủ cho gọn mắt. Chín tháng còn lại đều rút về ba chữ, riêng September có hai kiểu đều được chấp nhận là Sep và Sept.
Trọng âm chia tháng thành hai phe. January, February, April, August nhấn vào âm tiết đầu. July cùng bốn tháng cuối năm nhấn vào âm tiết thứ hai: ju-LY, sep-TEM-ber, oc-TO-ber, no-VEM-ber, de-CEM-ber. March, May, June chỉ có một âm tiết nên không có gì để chọn. Nhớ được luật này là bạn tránh được lỗi nhấn sai phổ biến nhất, đọc "SEP-tem-ber" thay vì "sep-TEM-ber".
Tên tháng luôn viết hoa trong tiếng Anh, kể cả khi nằm giữa câu. Tiếng Việt viết "tháng một" không hoa, và thói quen đó theo người học sang tiếng Anh khá dai. Luật này giống hệt với tên các thứ trong tuần, và ngược với tên bốn mùa trong tiếng Anh, vốn viết thường.
Tên mỗi tháng đến từ đâu
Mười hai cái tên này không phải ngẫu nhiên. Chúng đến từ lịch La Mã, và biết gốc của chúng giúp bạn nhớ chắc hơn hẳn so với đọc thuộc lòng theo thứ tự. Đặc biệt là bốn tháng cuối năm, nơi cái tên và con số lệch nhau hẳn hai bậc.
| Tháng | Gốc tên | Móc để nhớ |
|---|---|---|
| January | Janus, vị thần hai mặt canh giữ cửa và các khởi đầu | Một mặt nhìn về năm cũ, một mặt nhìn năm mới |
| February | Februa, nghi lễ thanh tẩy của người La Mã tổ chức giữa tháng | Tháng dọn dẹp trước khi bước sang phần chính của năm |
| March | Mars, thần chiến tranh | Viết y hệt động từ march, nghĩa là hành quân |
| April | Chưa có lời giải chắc chắn. Cách giải thích phổ biến nhất nối với động từ Latin aperire, nghĩa là mở ra | Tháng chồi cây bung ra ở châu Âu |
| May | Maia, nữ thần của sự sinh sôi và mùa màng | Tháng cây cối lớn nhanh nhất |
| June | Juno, nữ thần bảo trợ hôn nhân | Tháng cưới truyền thống ở phương Tây |
| July | Julius Caesar. Trước đó tháng này tên là Quintilis, nghĩa là tháng thứ năm | Ju trong July chính là Ju trong Julius |
| August | Augustus, hoàng đế La Mã đầu tiên. Trước đó tên là Sextilis, tháng thứ sáu | Cùng gốc với tính từ august, nghĩa là uy nghi |
| September | septem, số bảy trong tiếng Latin | Cùng gốc với septet, nhóm bảy người |
| October | octo, số tám | Cùng gốc với octopus tám chân và octagon tám cạnh |
| November | novem, số chín | Cùng gốc với nonagon, hình chín cạnh |
| December | decem, số mười | Cùng gốc với decade mười năm và decimal hệ mười |
Vì sao September nghĩa là tháng bảy mà lại đứng thứ chín
Nhìn bảng trên bạn sẽ thấy một chỗ vô lý: bốn tháng cuối năm mang tên các số bảy, tám, chín, mười, nhưng lại nằm ở vị trí chín, mười, mười một, mười hai. Lệch đúng hai bậc, và lệch đều nhau.
Lý do là lịch La Mã cổ chỉ có mười tháng và bắt đầu năm vào tháng March. Đếm từ March: March là một, April là hai, May là ba, June là bốn, Quintilis là năm, Sextilis là sáu, September là bảy, October là tám, November là chín, December là mười. Mọi thứ khớp hoàn hảo.
Về sau January và February được thêm vào phía trước, và mốc bắt đầu năm dời về January. Mười tháng cũ bị đẩy lùi hai bậc nhưng vẫn giữ nguyên tên cũ, thành ra tên và số không còn khớp. Hai tháng Quintilis và Sextilis sau đó được đổi tên thành July và August để vinh danh Julius Caesar và Augustus, nên chỉ còn bốn tháng cuối giữ lại dấu vết của cách đếm cũ.
Chi tiết này có ích ở chỗ nó biến bốn cái tên khó nhất thành bốn cái tên có logic. Bạn không cần nhớ September là tháng chín, bạn chỉ cần nhớ "bảy cộng hai". Nếu bạn đang củng cố phần đếm nói chung, bảng số đếm trong tiếng Anh và bảng số thứ tự là hai bảng đi cùng với trang này.
in January hay on January 5th
Đây là chỗ sai nhiều nhất khi viết email, và luật thì ngắn: in đi với một khoảng thời gian, on đi với một ngày cụ thể. Tháng là một khoảng, nên tháng đi với in. Nhưng khi bạn gắn thêm ngày vào, cả cụm biến thành một điểm, và điểm thì đi với on.
| Cấu trúc | Ví dụ | Dùng khi nào |
|---|---|---|
| in + tháng | The course starts in September. | Nói tới cả tháng, không chỉ ngày nào |
| in + tháng + năm | We met in June 2024. | Ghim vào một năm cụ thể, vẫn không có ngày |
| on + tháng + ngày | The flight leaves on March 14th. | Kiểu Mỹ, ngày đứng sau tháng |
| on + ngày + tháng | The flight leaves on 14 March. | Kiểu Anh, ngày đứng trước tháng |
| on the + số thứ tự + of + tháng | on the fourteenth of March | Dạng nói đầy đủ, hay dùng khi đọc to |
| by + tháng | Please send it by April. | Hạn chót, chậm nhất là tháng đó |
| since + tháng | She has worked here since May. | Từ tháng đó tới hiện tại |
| from + tháng + to + tháng | from October to December | Một quãng có đầu có cuối |
| early, mid, late + tháng | in late November | Áng chừng đầu, giữa, cuối tháng |
| last, next, this + tháng | last January, next August | Không dùng giới từ, đây là lỗi hay gặp |
Ba lỗi cần tránh, cả ba đều xuất phát từ cách nói tiếng Việt:
- in January 5th là sai. Có ngày rồi thì phải dùng on.
- on January là sai nếu bạn chỉ nói tới cả tháng. Đúng là in January.
- in next March là sai. Có last, next, this thì bỏ giới từ đi, chỉ viết next March.
Ngày trong tháng luôn đọc bằng số thứ tự dù bạn viết "March 14" không có đuôi: người ta vẫn đọc là "March fourteenth". Cách ghép đầy đủ ngày, tháng, năm nằm trong bài ngày tháng trong tiếng Anh, còn phần giờ giấc thì ở bài giờ trong tiếng Anh.

Viết ngày tháng trong email, hợp đồng và lịch
Vấn đề thật sự không nằm ở việc bạn viết đúng ngữ pháp, mà ở việc người đọc hiểu đúng ngày. Chuỗi 03/04/2026 là ngày 3 tháng Tư với một người Anh và ngày 4 tháng Ba với một người Mỹ. Cùng một dòng chữ, lệch nhau một tháng.
| Kiểu viết | Ví dụ | Dùng ở đâu | Rủi ro |
|---|---|---|---|
| Tháng ngày, năm | January 5, 2026 | Mỹ. Có dấu phẩy trước năm | Không có. Đọc kiểu nào cũng ra một ngày |
| Ngày tháng năm | 5 January 2026 | Anh, Úc, phần lớn châu Âu. Không dấu phẩy | Không có |
| Viết tắt tháng | 5 Jan 2026 | Email nội bộ, bảng biểu, vé máy bay | Không có, miễn là tháng vẫn bằng chữ |
| Toàn số kiểu Anh | 05/01/2026 | Anh và nhiều nước khác. Ngày trước | Người Mỹ đọc thành ngày 1 tháng Năm |
| Toàn số kiểu Mỹ | 01/05/2026 | Mỹ. Tháng trước | Người Anh đọc thành ngày 1 tháng Năm |
| Chuẩn ISO | 2026-01-05 | Hệ thống, tên file, cơ sở dữ liệu | Không có. Luôn là năm, tháng, ngày |
Quy tắc an toàn khi làm việc với nhiều nước: viết tên tháng bằng chữ, đủ hoặc viết tắt đều được. Chỉ cần chữ "Jan" hay "January" xuất hiện là mọi tranh cãi biến mất, không cần biết người đọc quen kiểu nào. Dạng toàn số chỉ nên dùng trong nội bộ khi cả hai bên chắc chắn dùng chung một quy ước, hoặc dùng chuẩn ISO vốn không thể hiểu sai.
Một chi tiết nhỏ về dấu chấm: viết Jan hay Jan. đều chấp nhận được. Người Mỹ thiên về có dấu chấm, người Anh thiên về không. Chọn một kiểu rồi giữ nguyên trong cả văn bản, đó là điều duy nhất người đọc để ý.
Cụm từ đi với tháng mà bạn sẽ gặp hằng ngày
Biết tên tháng chưa đủ để nghe hiểu một cuộc họp. Tháng gần như luôn đi trong cụm, và chính cụm mới là thứ trôi qua tai bạn.
- the end of the month hoặc viết tắt trong email là EOM. Cuối tháng.
- month to date, viết tắt MTD. Tính từ đầu tháng tới hôm nay, hay gặp trong báo cáo.
- a month from now. Một tháng nữa kể từ bây giờ.
- back in February. Hồi tháng Hai, nhấn ý đã lâu rồi.
- this coming December. Tháng Mười Hai sắp tới, không phải năm ngoái.
- from September through May. Kiểu Mỹ, through bao gồm cả tháng cuối, rõ nghĩa hơn to.
- a January start date. Tháng đứng làm tính từ đứng trước danh từ, không thêm giới từ.
- monthly là hằng tháng. Còn bimonthly thì mập mờ ngay trong tiếng Anh, từ điển ghi cả hai nghĩa là hai tháng một lần và hai lần một tháng, nên khi viết bạn nên nói thẳng "every two months" hoặc "twice a month".
Từ month /mʌnθ/ và số nhiều months /mʌnθs/ là một trong những cụm phụ âm cuối khó nhất tiếng Anh. Ba phụ âm liền nhau /nθs/ không tồn tại trong tiếng Việt, nên nhiều người bỏ luôn phần đuôi và nói thành "mun". Người nghe vẫn hiểu, nhưng bạn mất thông tin số nhiều, và trong câu về thời hạn thì đó là thông tin quan trọng nhất.
Nghe: bốn tháng đuôi -ber và cặp June với July
Tên tháng là một trong những nhóm từ bị nghe hụt nhiều nhất, và lý do rất cụ thể chứ không phải vì bạn kém.
Bốn tháng cuối năm đều nhấn vào âm tiết thứ hai và đều kết thúc bằng đúng một vần: -ember hoặc -ober. Phần bạn nghe rõ nhất, tức phần được nhấn, lại là phần chúng giống nhau. Phần phân biệt nằm ở âm tiết đầu không có trọng âm, mà âm tiết không trọng âm chính là chỗ tiếng Anh nói nhanh nuốt gọn nhất: No- tụt thành /nə/, De- tụt thành /dɪ/. Nói cách khác, thông tin quan trọng nhất được phát ra ở âm lượng nhỏ nhất.
| Cặp dễ nghe hụt | Phiên âm | Chỗ khác nhau thật sự | Nghe vào đâu |
|---|---|---|---|
| November và December | /nəʊˈvembə/ và /dɪˈsembə/ | Âm /v/ so với /s/ trong âm tiết được nhấn | Bỏ qua âm tiết đầu, nghe phụ âm ngay sau nó |
| September và December | /sepˈtembə/ và /dɪˈsembə/ | Âm /t/ so với /s/ ở giữa | Nghe xem có tiếng bật /t/ hay tiếng xì /s/ |
| June và July | /dʒuːn/ và /dʒuˈlaɪ/ | June một âm tiết, July hai âm tiết và nhấn ở sau | Đếm nhịp. July có một nhịp nhấn rơi ở cuối |
| March và May | /mɑːtʃ/ và /meɪ/ | Nguyên âm ở giữa, và đuôi /tʃ/ của March | Đuôi /tʃ/ là dấu hiệu chắc chắn duy nhất |
| January và February | /ˈdʒænjuəri/ và /ˈfebruəri/ | Cả hai đều nhấn đầu và có đuôi dài giống nhau | Nghe phụ âm đầu /dʒ/ so với /f/ |
Thêm hai chi tiết mà tài liệu ít nói tới. Thứ nhất, February trong đời thật thường được đọc là /ˈfebjuəri/, bỏ hẳn âm /r/ đầu tiên. Đây không phải lỗi của người nói, đây là cách phát âm phổ biến đến mức từ điển ghi nhận. Nếu bạn chỉ học một cách đọc, bạn sẽ hụt cách còn lại. Thứ hai, đuôi -uary của January và February trong câu nói nhanh co lại gần như còn một âm tiết, nghe như "jan-yu-ri". Đó là hiện tượng giảm âm tiết, cùng họ với những gì xảy ra trong nối âm tiếng Anh.
Cách chữa không nằm ở việc nghe lại tên mười hai tháng trên một ứng dụng phát từng từ rời. Từ rời bao giờ cũng nghe rõ, vì nó được phát ra chậm và có trọng âm đầy đủ. Vấn đề chỉ xuất hiện khi tháng nằm giữa câu, không được nhấn, và dính vào từ trước từ sau.
Vì vậy bài luyện đúng là nghe chép chính tả trên câu thật: nghe một đoạn ngắn, chép lại từng từ, so với transcript, rồi nhìn xem mình đã ghi "November" ở chỗ đáng lẽ là "December". Chép sai một lần bạn nhớ lâu hơn nghe đúng mười lần, vì nó chỉ đúng chỗ tai bạn đang hụt.
WELE có hơn 800 bài podcast kèm transcript, chấm từng từ bạn chép, và gom những từ bạn sai vào phần ôn lặp lại ngắt quãng để chúng quay lại sau vài ngày. Bạn có thể mở một bài podcast ngắn và thử ngay, hoặc làm bài kiểm tra trình độ nghe miễn phí để biết nên bắt đầu ở mức nào. Nếu vấn đề của bạn là duy trì đều đặn chứ không phải trình độ, bài nghe tiếng Anh mỗi ngày nói về cách giữ nhịp.
Người học hay hỏi gì về tháng
Tên tháng trong tiếng Anh có bắt buộc viết hoa không
Có, luôn luôn viết hoa chữ cái đầu, kể cả khi tháng nằm giữa câu. Dạng viết tắt cũng vậy: Jan, Feb, Sep đều hoa chữ đầu. Chỉ có tên bốn mùa là viết thường, và đó là chỗ hay bị nhầm lẫn nhất giữa hai nhóm từ này.
Viết Jan hay Jan. mới đúng
Cả hai đều được chấp nhận. Văn phong Mỹ thiên về có dấu chấm, văn phong Anh thiên về không. Điều quan trọng là nhất quán trong cùng một văn bản. Riêng May không viết tắt vì đã đủ ngắn, còn September có hai dạng Sep và Sept đều dùng được.
February đọc thế nào cho đúng
Dạng đầy đủ là /ˈfebruəri/ với hai âm /r/. Nhưng dạng /ˈfebjuəri/, bỏ âm /r/ thứ nhất, phổ biến đến mức được từ điển ghi nhận là cách đọc chuẩn thứ hai. Bạn nói cách nào cũng được, nhưng nên quen tai với cả hai để không hụt khi nghe.
Nói "on January" có sai không
Sai nếu bạn đang nói tới cả tháng, đúng phải là in January. Chỉ dùng on khi có ngày cụ thể đi kèm, ví dụ on January 5th. Cách kiểm nhanh: nếu trong câu có con số ngày thì dùng on, nếu không có thì dùng in.
03/04/2026 là ngày mấy
Không có câu trả lời chắc chắn nếu chỉ nhìn dãy số. Người Anh đọc là ngày 3 tháng Tư, người Mỹ đọc là ngày 4 tháng Ba. Nếu chuỗi này nằm trong một email quan trọng, hãy hỏi lại thay vì đoán, và khi bạn là người viết thì luôn viết tên tháng bằng chữ.
Học tên tháng thế nào cho nhớ lâu
Đừng học rời mười hai từ. Học theo nhóm: bốn tháng cuối năm gắn với các số Latin bảy tám chín mười, ba tháng hè June, July, August gắn với hai nhân vật La Mã và một nữ thần, còn January đến May đi cùng câu chuyện thần thoại trong bảng phía trên. Sau đó gắn mỗi tháng với một sự kiện có thật trong đời bạn, kiểu sinh nhật hay hạn nộp báo cáo, vì trí nhớ bám vào việc chứ không bám vào danh sách.
Mười hai cái tên này nhỏ nhưng có mặt trong gần như mọi email công việc và mọi cuộc gọi đặt lịch, nên sai một chữ là lệch cả một tháng. Viết cho chắc thì nhớ luật in với on và luôn để tên tháng bằng chữ, còn nghe cho chắc thì cần luyện trên câu thật, và nghe chép chính tả là cách nhanh nhất để biết tai mình đang hụt ở tháng nào.