Số Đếm Trong Tiếng Anh: Bảng Đầy Đủ, Cách Đọc Tiền Và Số 0

The Wallaby13 phút đọc77 lượt xem
Số Đếm Trong Tiếng Anh: Bảng Đầy Đủ, Cách Đọc Tiền Và Số 0
Trên trang này

Quầy thanh toán ở sân bay, người thu ngân nói một câu rất ngắn: "That'll be fifteen fifty". Bạn nghe ra fifty fifty và rút ví theo con số trong đầu mình. Câu đó dài chưa tới hai giây và nó không lặp lại.

Số đếm là nhóm từ được dạy trong buổi học đầu tiên và vẫn bị nghe nhầm sau nhiều năm. Lý do không nằm ở trí nhớ. Trong một câu bình thường, nếu bạn hụt mất một từ thì ngữ pháp và ngữ cảnh vá lại giúp bạn. Con số thì không có lớp vá đó. Thirteen dollars và thirty dollars đều đúng ngữ pháp, đều hợp lý, đều có thể là giá của cùng một món. Nghe hụt là mất trắng, không có gì đoán bù.

Trang này gồm hai nửa. Nửa đầu là bảng tra: cách viết, cách đọc và phiên âm của số từ 0 tới hàng tỷ, cùng những chỗ ghép số mà người Việt hay trượt. Nửa sau dành cho tai, và đó mới là phần bạn nên đọc kỹ.

Nội dung chính:

Bảng số đếm 0 đến 20

Hai mươi từ đầu tiên phải học thuộc vì chúng không theo quy luật nào cả. Từ 21 trở đi mọi thứ chỉ là ghép lại. Phiên âm dưới đây ghi theo giọng Anh-Anh.

SốTừPhiên âm IPAGhi chú
0zero/ˈzɪərəʊ/Còn có bốn cách đọc khác, xem phần riêng bên dưới
1one/wʌn/Đọc trùng với won, dạng quá khứ của win
2two/tuː/Chữ w câm, trùng âm với to và too
3three/θriː/Mở đầu bằng /θ/, đừng đọc thành tri
4four/fɔː/Có chữ u, khác với forty
5five/faɪv/Kết thúc bằng /v/, môi dưới chạm răng trên
6six/sɪks/Nguyên âm ngắn, đừng kéo dài thành seek
7seven/ˈsevn/Hai âm tiết, phần sau gần như chỉ còn /n/
8eight/eɪt/Trùng âm hoàn toàn với ate
9nine/naɪn/Kết thúc bằng /n/, không phải /ŋ/
10ten/ten/Nguyên âm ngắn và gọn
11eleven/ɪˈlevn/Trọng âm ở giữa, âm đầu rất nhẹ
12twelve/twelv/Cụm /lv/ cuối từ, giữ lại cả hai âm
13thirteen/ˌθɜːˈtiːn/Trọng âm cuối, kết thúc bằng /n/
14fourteen/ˌfɔːˈtiːn/Giữ nguyên chữ u của four
15fifteen/ˌfɪfˈtiːn/five rụng mất ve như trong fifth
16sixteen/ˌsɪksˈtiːn/Ba phụ âm giữa từ, dễ bị nuốt
17seventeen/ˌsevnˈtiːn/Ba âm tiết, phần giữa đọc rất nhẹ
18eighteen/ˌeɪˈtiːn/Chỉ một chữ t chứ không phải hai
19nineteen/ˌnaɪnˈtiːn/Hai âm /n/ trong một từ ngắn
20twenty/ˈtwenti/Người Mỹ hay đọc thành twenny

Từ 21 tới 99 ghép theo đúng một khuôn: chục tròn, gạch nối, hàng đơn vị. 21 là twenty-one, 47 là forty-seven, 99 là ninety-nine. Gạch nối là bắt buộc trong văn viết chuẩn.

Chục tròn, trăm, nghìn, triệu, tỷ

Nhóm chục tròn là nhóm gây rắc rối cho tai nhất, vì mỗi từ ở đây có một người anh em kết thúc bằng -teen. Bạn sẽ gặp lại đúng bảy cặp đó ở phần nghe.

SốTừPhiên âm IPAGhi chú
20twenty/ˈtwenti/Trọng âm đầu, kết thúc bằng nguyên âm
30thirty/ˈθɜːti/Mở đầu bằng /θ/ giống three
40forty/ˈfɔːti/Không có chữ u, đây là chỗ hay viết sai
50fifty/ˈfɪfti/Nguyên âm ngắn, khác hẳn fifteen
60sixty/ˈsɪksti/Cụm /kst/ ở giữa từ
70seventy/ˈsevnti/Ba âm tiết dồn về đầu
80eighty/ˈeɪti/Gọn nhất trong nhóm, chỉ hai âm tiết
90ninety/ˈnaɪnti/Giữ nguyên chữ e, khác với ninth
100a hundred, one hundred/ˈhʌndrəd/Nói chuyện thường dùng a, giấy tờ dùng one
1.000a thousand, one thousand/ˈθaʊznd/Tiếng Anh viết là 1,000 với dấu phẩy
1.000.000a million, one million/ˈmɪljən/Một triệu, viết là 1,000,000
1 tỷa billion/ˈbɪljən/Chín chữ số 0, tương đương một tỷ
1000 tỷa trillion/ˈtrɪljən/Chỉ gặp trong tin kinh tế và thiên văn
Minh hoạ hai sóng âm gần giống nhau với phần đuôi khác biệt và người học đeo tai nghe đang so sánh

Ghép số lớn: bốn chỗ hay trượt

Bốn điểm dưới đây gây lỗi nhiều hơn hẳn phần học thuộc bảng, vì chúng đi ngược thói quen của tiếng Việt.

  1. hundred, thousand, million không thêm s khi có số đứng trước. Bạn nói two hundred students, five thousand people, three million users. Dạng two hundreds là dạng sai.
  2. Nhưng có s khi đi với of và không có số cụ thể. hundreds of people nghĩa là hàng trăm người, thousands of years là hàng nghìn năm. Ở đây s là bắt buộc.
  3. Chữ and của người Anh. 350 đọc là three hundred and fifty theo lối Anh, three hundred fifty theo lối Mỹ. Cả hai đều đúng, chỉ cần bạn biết chữ and đó có thể xuất hiện để tai không hụt nhịp.
  4. Dấu phẩy và dấu chấm đảo ngược so với tiếng Việt. Tiếng Anh viết 1,500.75 trong khi tiếng Việt viết 1.500,75. Dấu phẩy tách hàng nghìn, dấu chấm mở phần thập phân. Đọc nhầm dấu là lệch một nghìn lần.

Với số dài, người ta cắt theo cụm ba chữ số rồi đọc từ trái sang phải. 1,234,567 đọc là one million, two hundred and thirty-four thousand, five hundred and sixty-seven. Nghe thì dài, nhưng cấu trúc lặp lại nên tai quen rất nhanh.

Con sốLối AnhLối Mỹ
105a hundred and fivea hundred five
350three hundred and fiftythree hundred fifty
1,200one thousand two hundredtwelve hundred
2,015two thousand and fifteentwo thousand fifteen
7,342seven thousand three hundred and forty-twoseven thousand three hundred forty-two

Dòng 1,200 đáng để ý riêng. Người Mỹ đọc twelve hundred cho các số tròn trăm từ 1,100 tới 1,900, và đó là kiểu đọc khiến người học đứng hình vì không tìm thấy chữ thousand đâu cả.

Số 0 và năm cái tên của nó

Không có con số nào trong tiếng Anh nhiều tên gọi như số 0. Chọn sai tên thì người nghe vẫn hiểu, nhưng bạn nghe không ra tên họ đang dùng thì mất luôn con số.

Ngữ cảnhĐọc làPhiên âm IPAVí dụ
Toán học, nhiệt độ, nói chungzero/ˈzɪərəʊ/zero degrees, a score of zero
Số điện thoại, số phòng, số nămoh/əʊ/room three oh five
Tỷ số bóng đá theo lối Anhnil/nɪl/Chelsea won two nil
Số thập phân theo lối Anhnought/nɔːt/nought point five
Quần vợtlove/lʌv/forty love
Tỷ số theo lối Mỹnothing, zero/ˈnʌθɪŋ/they lead two to nothing

Cách nhớ gọn: zero là mặc định an toàn ở mọi nơi trừ thể thao. oh xuất hiện khi con số được đọc từng chữ một. nil, love và nothing thuộc về sân bóng và sân tennis, gặp trong bản tin thể thao chứ hiếm khi trong hội thoại công việc.

Thập phân, tiền, số điện thoại, năm

Số thập phân

Dấu chấm đọc là point. Phần trước dấu chấm đọc như số bình thường, phần sau dấu chấm đọc từng chữ số một. 3.14 là three point one four chứ không phải three point fourteen. 2.5 là two point five. 0.75 có ba cách đều dùng được: zero point seven five, nought point seven five, hoặc gọn nhất là point seven five.

Tiền

Tiền không dùng point. Bạn không nói four point five zero dollars. Có ba lối đọc, xếp từ trang trọng tới đời thường.

ViếtĐầy đủThông dụngNgắn nhất
$4.50four dollars and fifty centsfour dollars fiftyfour fifty
$19.99nineteen dollars and ninety-nine centsnineteen dollars ninety-ninenineteen ninety-nine
£2.30two pounds and thirty pencetwo pounds thirtytwo thirty
$100one hundred dollarsa hundred dollarsa hundred
$1,500one thousand five hundred dollarsfifteen hundred dollarsfifteen hundred

Cột ngắn nhất là cột bạn nghe thấy ngoài đời nhiều nhất, và cũng là cột nguy hiểm nhất, vì four fifty và four fifteen chỉ khác nhau ở một âm cuối.

Số điện thoại

Số điện thoại đọc từng chữ số, ngắt theo cụm, số 0 đọc là oh. Người Anh gộp chữ số lặp lại bằng double và triple: 44 thành double four, 777 thành triple seven. Người Mỹ thường đọc rời từng số và hay dùng zero thay cho oh. Khi cho ai số của mình, đọc chậm và ngắt sau mỗi ba tới bốn chữ số là đủ để người kia chép kịp.

Năm

Năm chia thành từng cặp hai chữ số. 1975 là nineteen seventy-five, 1900 là nineteen hundred, 1905 là nineteen oh five. Từ năm 2000 tới 2009 lối đọc đổi: 2000 là two thousand, 2007 là two thousand and seven. Từ 2010 trở đi quay lại lối cặp đôi, nên 2026 là twenty twenty-six. Cách nói năm đi rất gần với cách nói ngày tháng trong tiếng Anh, và ngày trong tháng thì lấy dạng thứ tự chứ không lấy dạng số đếm, tức là bạn cần thêm bảng số thứ tự nữa mới đủ bộ.

Giờ giấc cũng chạy trên chính những con số này, chỉ khác ở chỗ ghép: cách nói giờ trong tiếng Anh có phần past và to riêng mà bảng số đếm không nói hết được.

Thirteen hay thirty: ba dấu hiệu để nghe ra

Đây là cặp nhầm đắt nhất trong tiếng Anh. Nó xuất hiện ở giá tiền, tuổi, số lượng, giờ hẹn, số nhà, và mỗi lần nhầm là một lần bạn hiểu sai chuyện thật chứ không phải sai một câu bài tập.

CặpPhiên âmTrọng âmÂm cuối
thirteen và thirty/ˌθɜːˈtiːn/ và /ˈθɜːti/Cuối và đầu/n/ và /i/
fourteen và forty/ˌfɔːˈtiːn/ và /ˈfɔːti/Cuối và đầu/n/ và /i/
fifteen và fifty/ˌfɪfˈtiːn/ và /ˈfɪfti/Cuối và đầu/n/ và /i/
sixteen và sixty/ˌsɪksˈtiːn/ và /ˈsɪksti/Cuối và đầu/n/ và /i/
seventeen và seventy/ˌsevnˈtiːn/ và /ˈsevnti/Cuối và đầu/n/ và /i/
eighteen và eighty/ˌeɪˈtiːn/ và /ˈeɪti/Cuối và đầu/n/ và /i/
nineteen và ninety/ˌnaɪnˈtiːn/ và /ˈnaɪnti/Cuối và đầu/n/ và /i/

Dấu hiệu thứ nhất là trọng âm. Khi từ đứng một mình, thirteen dồn sức vào phần sau, nghe như thir-TEEN. thirty dồn sức vào phần đầu, nghe như THIR-ty. Đây là dấu hiệu được dạy nhiều nhất, và cũng là dấu hiệu phản bội bạn thường xuyên nhất.

Vì sao nó phản bội. Khi thirteen đứng trước một danh từ, trọng âm nhảy về đầu để tránh hai trọng âm đụng nhau. thirTEEN đứng riêng, nhưng THIRteen dollars khi có danh từ theo sau. Đúng lúc bạn cần phân biệt nhất, tức là lúc con số đi kèm đơn vị, thì dấu hiệu trọng âm mờ đi. Hiện tượng này thuộc nhóm biến đổi của lời nói nối, và connected speech còn nhiều trò tương tự.

Dấu hiệu thứ hai là âm cuối, và đây mới là dấu hiệu đáng tin. Đuôi -teen luôn khép lại bằng phụ âm /n/. Đuôi -ty luôn kết thúc bằng nguyên âm /i/, miệng mở, không có gì chặn lại. Trọng âm có thể xê dịch, nhưng cái âm /n/ đó thì không biến mất. Tập tai bám vào phần đuôi thay vì phần đầu là thay đổi có ích nhất bạn làm được cho nhóm từ này.

Dấu hiệu thứ ba là chữ t ở giữa. Trong giọng Mỹ, chữ t nằm giữa hai nguyên âm bị đọc nhẹ đi thành một âm gần với /d/, nên thirty nghe như thir-dy. Còn chữ t trong thirteen giữ nguyên độ bật vì nó đứng đầu âm tiết mang trọng âm. Nghe thấy một âm mềm giống d thì gần như chắc chắn đó là số tròn chục.

Ngay cả người bản xứ cũng nhầm cặp này. Khi cần chắc chắn, họ hỏi lại bằng cách đọc từng chữ số: "Fifteen, one five, or fifty, five oh?". Bạn hoàn toàn có thể dùng đúng câu hỏi đó, nó không hề lộ ra rằng bạn là người học.

Bài luyện nghe chép số trong mười lăm phút

Nghe thêm nhiều giờ không chữa được lỗi này. Khi nghe để hiểu đại ý, não bạn được phép bỏ qua con số và vẫn nắm được câu chuyện, nên tai không bao giờ bị ép phải phân biệt. Cái ép được nó là nghe chép chính tả: chép lại đúng từng chữ thì không có chỗ nào để đoán.

  1. Chọn một bài nói dày số. Bản tin kinh tế, tin thể thao, hội thoại đặt lịch hoặc mua bán là những chỗ số xuất hiện liên tục.
  2. Nghe từng câu một, chép lại. Con số nào không chắc thì cứ viết cái bạn nghe được, đừng dừng lại suy luận.
  3. So với transcript. Khoanh riêng mọi chỗ sai là con số, tách khỏi các lỗi khác.
  4. Nghe lại đúng những câu đó, lần này biết trước đáp án. Bạn đang dạy tai gắn âm thanh với con số đúng.
  5. Ghi cặp bạn hay nhầm vào danh sách ôn, rồi gặp lại nó sau vài ngày thay vì làm một mạch trong một buổi.

Ở WELE, từng câu bạn chép được chấm tới từng từ, nên một con số sai hiện ra rõ chứ không lẫn vào bài. Kho hơn 800 bài podcast có transcript đủ để bạn lọc riêng những bài nhiều số liệu. Những chỗ chép sai được đưa vào ôn lại theo lối lặp lại ngắt quãng, tức là quay lại đúng lúc trí nhớ sắp phai. Mười lăm phút mỗi ngày là đủ, và cách gói gọn buổi học vào mười lăm phút có sẵn khung giờ cho người bận.

Nếu bạn muốn biết mình đang nghe ở mức nào trước khi bắt đầu, bài kiểm tra trình độ nghe miễn phí cho một mốc để vài tuần sau so lại. Còn nếu chuyện nghe hụt xảy ra với bạn ở khắp mọi nơi chứ không riêng gì con số, ba nguyên nhân khiến người Việt nghe kém nói thẳng vào gốc rễ.

Người học hay hỏi gì về số đếm

Số 0 đọc zero hay oh, khi nào dùng cái nào?

Dùng oh khi con số được đọc rời từng chữ số, ví dụ số điện thoại, số phòng, số năm. Dùng zero khi con số mang giá trị toán học, ví dụ nhiệt độ, điểm số, kết quả tính toán. Nhầm hai cái này không gây hiểu lầm, nhưng dùng đúng thì câu nói tự nhiên hơn hẳn.

Two hundreds hay two hundred?

two hundred. Khi có một con số đứng ngay trước, hundred, thousand, million và billion đều giữ nguyên dạng số ít. Chỉ khi bạn nói ước chừng kèm of thì mới thêm s, kiểu hundreds of emails.

1,500 nên đọc thế nào cho tự nhiên?

Cả one thousand five hundred lẫn fifteen hundred đều đúng. Lối thứ hai gọn hơn và rất phổ biến trong tiếng Anh Mỹ, đặc biệt khi nói về tiền hoặc khoảng cách. Khi đọc số trong văn bản trang trọng thì chọn lối đầu.

$4.50 nói sao cho giống người bản xứ?

four fifty. Người ta bỏ luôn cả chữ dollars lẫn chữ cents trong hội thoại mua bán hằng ngày. Dạng đầy đủ four dollars and fifty cents chỉ xuất hiện khi cần rõ ràng tuyệt đối, chẳng hạn khi đọc hóa đơn qua điện thoại.

Nghe số nhanh quá không kịp, làm sao bây giờ?

Chép lại thay vì cố hiểu. Nghe một câu có số, viết ra giấy, so lại với bản gốc. Vấn đề không phải tốc độ mà là tai bạn chưa từng bị buộc phải chọn giữa hai âm gần nhau. Nếu bạn đang bắt đầu lại từ đầu, lộ trình cho người mất gốc sắp xếp thứ tự các việc cần làm.

Chốt lại

Bảng số trong bài này bạn học thuộc trong một buổi, còn cái tai nghe ra fifty giữa dòng nói nhanh thì cần vài tuần chép đi chép lại. Chọn một bài podcast có số liệu, chép từng câu, và mỗi lần chép sai một con số thì ghi lại cặp đó. Vài chục lần như vậy là đủ để lần sau bạn nghe fifteen fifty ở quầy thanh toán mà không phải hỏi lại. Bắt đầu miễn phí với kho podcast có transcript của WELE.

The Wallaby
The Wallaby đọc, tổng hợp và viết lại những gì hữu ích cho người tự học: nghe chép chính tả, luyện nghe và cách giữ thói quen học tiếng Anh.