Blog
Mẹo học tiếng Anh, hướng dẫn và tin tức từ WELE
Learning Tips

Quá khứ của quit vẫn là quit: động từ không đổi dạng, và bộ ba quit quite quiet
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của quit đều là quit. Phần khó nằm ở chỗ động từ này không mang dấu vết thì nào, và ở bộ ba quit, quite, quiet.

Quá khứ của plan: vì sao phải viết planned với hai chữ n
Plan là động từ có quy tắc, quá khứ đơn và quá khứ phân từ đều là planned. Phần khó nằm ở luật nhân đôi chữ n và ở cụm /nd/ rụng mất trong câu nói nhanh.

Tiếng Anh chuyên ngành luật: từ vựng theo lĩnh vực và lộ trình cho người hành nghề
Từ vựng pháp lý tiếng Anh xếp theo lĩnh vực bạn thực sự gặp, cộng lộ trình ba chặng cho người hành nghề và bốn nguồn tự học có sẵn bản chữ để đối chiếu.

Quá khứ của move: moved đọc liền một âm tiết, và vì sao chữ o thành /uː/
Move là động từ có quy tắc, quá khứ đơn và quá khứ phân từ đều là moved. Phần khó nằm ở nguyên âm /uː/ và ở cụm /vd/ mà tai người Việt hay xóa mất.

Quá khứ của laugh là laughed: cụm gh đọc thành f, và cái bẫy laughed với left
Laugh là động từ có quy tắc, quá khứ đơn và quá khứ phân từ đều là laughed. Phần khó nằm ở cụm gh đọc thành /f/ và ở chỗ laughed đụng left trong câu nói nhanh.

Quá khứ của dig là dug: một nguyên âm đổi, và bộ tứ dig, dug, dog, duck
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của dig đều là dug. Phần khó là chữ g cuối có rung, một âm tiếng Việt không có ở cuối từ, nên dug hay ra thành duck.

Quá khứ của clean là cleaned, và khoảng cách giữa was clean với was cleaned
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của clean đều là cleaned. Phần khó là cụm /nd/ ở cuối, nó rơi mất và biến một câu bị động thành một câu tả trạng thái.

Quá khứ của call là called: đuôi /d/ dính liền và cái bẫy mang tên cold
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của call đều là called. Phần khó là cụm /ld/ ở cuối, nó rơi mất trước phụ âm và kéo called về gần cold.

Bore, born hay borne: quá khứ của bear và ba cách viết dễ lẫn
Quá khứ đơn của bear là bore, còn phân từ có hai cách viết là born và borne. Phần khó là chọn mặt chữ, vì tai không tách được chúng.

Quá khứ của visit là visited, một trong số ít từ đuôi ed thật sự đọc /ɪd/
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của visit đều là visited, ba âm tiết. Phần khó là nó nghe gần như trùng với visit it khi người bản xứ nói nhanh.

Quá khứ của understand là understood: nó đi theo stand, và trọng âm nằm ở cuối
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của understand đều là understood. Phần khó là trọng âm rơi vào âm tiết cuối, nên tai người học hay dừng lại trước chỗ mang thì.

Stopped chứ không phải stoped: quá khứ của stop và cụm pt biến mất khi nghe
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của stop đều là stopped. Phần khó là hai chữ p khi viết, và cụm /pt/ gần như biến mất khi người bản xứ nói nhanh.

Spread không đổi hình: quá khứ của spread ở cả ba ô là một chữ
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của spread đều là spread. Vì động từ không đổi hình nên thì của câu nằm hết ở trợ động từ, đúng phần dễ rơi mất nhất khi nghe.

Tiếng Anh văn phòng: từ vựng, mẫu câu và cách nói đúng giọng điệu
Tiếng Anh văn phòng không khó vì thiếu từ, mà vì giọng điệu dịch thẳng dễ nghe như ra lệnh: từ vựng, mẫu câu và cách học để nhớ thật lâu.

Listen có quy tắc: listened, chữ t câm và cái đuôi ed hay rơi mất
Listen có quy tắc, quá khứ và phân từ đều là listened. Chỗ khó là chữ t câm và cái đuôi /d/ chết ngay trước chữ to, mang theo cả thì của câu.

Lent, không phải lended: quá khứ của lend và ranh giới với borrow
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của lend đều là lent. Chỗ khó là hướng của hành động, lend đưa ra còn borrow nhận vào, và cụm nt ở cuối hay rơi mất khi nghe.

Quá khứ của lay là laid: nửa còn lại của mớ lie với lay
Quá khứ đơn và quá khứ phân từ của lay đều là laid. Trang này lo nửa có tân ngữ của mớ lie với lay, và chỗ laid mất chữ d khi người bản xứ nói nhanh.

Dream có hai quá khứ: dreamed, dreamt và cái đuôi mt hay rơi mất
Quá khứ của dream là dreamed hoặc dreamt, cả hai đều đúng. Chỗ khó là cái đuôi hai phụ âm rơi mất khi nói nhanh, kéo theo cả thì của câu.

Quá khứ của throw: threw, thrown và hai cặp đồng âm gài bẫy
Quá khứ đơn của throw là threw, quá khứ phân từ là thrown. Cái bẫy nằm ở chỗ threw trùng âm với through và thrown trùng âm với throne.

Shone hay shined: quá khứ của shine tách làm hai đường
Quá khứ của shine là shone cho nghĩa phát sáng và shined cho nghĩa đánh bóng. Cái bẫy thật nằm ở chỗ shone và shown phát âm giống hệt nhau trong giọng Mỹ.