Cách Đọc Từ Tiếng Anh: Đoán Cách Phát Âm Từ Mặt Chữ

WELE Team18 phút đọc19 lượt xem
Cách Đọc Từ Tiếng Anh: Đoán Cách Phát Âm Từ Mặt Chữ
Trên trang này

Tiếng Việt viết sao đọc vậy. Chữ "chuyên" chỉ có một cách đọc, và bạn chưa bao giờ phải tra từ điển để biết một từ tiếng Việt mới nghe ra sao. Thói quen đó đi theo bạn sang tiếng Anh, rồi gặp colonel và gãy.

Chuyện hay xảy ra nhất là thế này. Bạn đọc được một từ trong tài liệu, hiểu nghĩa, dùng nó khi viết, nhưng trong đầu bạn nó có một cách đọc do bạn tự dựng lên từ mặt chữ. Đến lúc nghe ai đó nói đúng từ ấy, bạn không nhận ra. Từ vựng thì bạn có, mà tai thì không có.

Chính tả tiếng Anh không đều, nhưng cũng không phải bốc thăm. Có một lớp quy tắc đủ ổn định để dạy được, và biết chúng thì gặp từ lạ bạn đoán được một cách đọc hợp lý thay vì đứng hình hoặc đọc theo lối tiếng Việt. Bài này gom những quy tắc đó lại, kèm ví dụ thật và phiên âm IPA, và nói thẳng chỗ nào quy tắc hết tác dụng.

Chính tả tiếng Anh đoán được tới đâu

Chính tả tiếng Anh gần như bị đóng băng từ thời máy in, còn cách phát âm thì đi tiếp thêm mấy trăm năm nữa. Đó là gốc của chuyện lệch lạc giữa mặt chữ và âm thanh, và bài về âm câm trong tiếng Anh có phần lịch sử đầy đủ nếu bạn tò mò.

Phần còn lại vẫn có hệ thống. Các quy tắc trong bài không hoạt động ở mức từng chữ cái riêng lẻ, mà ở mức vị tríhậu tố: chữ c đứng trước chữ gì, chữ e nằm ở đâu trong từ, từ kết thúc bằng cụm nào. Học theo vị trí thì một quy tắc phủ được hàng trăm từ cùng lúc. Đổi lại, không quy tắc nào ở đây đúng tuyệt đối, nên hãy coi mỗi cái là một giả thuyết cần xác nhận lại.

Phiên âm trong bài mặc định là giọng Anh Anh, chỗ nào giọng Mỹ khác rõ thì có ghi chú. Nếu ký hiệu IPA còn lạ với bạn, bài phát âm tiếng Anh có bảng IPA đầy đủ và danh sách các âm người Việt hay sai.

Chữ e cuối từ kéo dài nguyên âm phía trước

Quy tắc này nên thuộc trước tiên vì nó đụng tới những từ cơ bản nhất. Chữ e ở cuối từ không được đọc thành tiếng, nhưng nó đổi nguyên âm phía trước từ âm ngắn sang âm dài hoặc nguyên âm đôi.

Không có e cuốiPhiên âmCó e cuốiPhiên âm
mad/mæd/made/meɪd/
hop/hɒp/hope/həʊp/
bit/bɪt/bite/baɪt/
cut/kʌt/cute/kjuːt/
tap/tæp/tape/teɪp/
pin/pɪn/pine/paɪn/
not/nɒt/note/nəʊt/
plan/plæn/plane/pleɪn/
rob/rɒb/robe/rəʊb/
hug/hʌɡ/huge/hjuːdʒ/

Lỗi ngược lại cũng phổ biến: thấy chữ e thì cố đọc nó ra, và một từ một âm tiết bị kéo thành hai. Từ made chỉ có đúng một âm tiết, /meɪd/.

Rồi tới chỗ quy tắc hụt. Một nhóm từ rất hay gặp có chữ e cuối mà nguyên âm phía trước vẫn ngắn.

TừPhiên âmVì sao có chữ e
have/hæv/chính tả tiếng Anh không kết thúc từ bằng chữ v
give/ɡɪv/cùng lý do với have
live (động từ)/lɪv/cùng lý do, và khác hẳn tính từ live /laɪv/
love/lʌv/cùng lý do
glove/ɡlʌv/cùng lý do
come/kʌm/từ cổ, nguyên âm rút ngắn từ lâu
some/sʌm/cùng nhóm với come
done/dʌn/cùng nhóm với come
gone/ɡɒn/cùng nhóm với come
one/wʌn/còn thêm âm /w/ không có trong chữ viết

Nhóm tận cùng bằng -ve có lý do rõ ràng và dùng được như một quy tắc con: tiếng Anh không viết một từ kết thúc bằng chữ v, nên chữ e ở đó chỉ là chữ đệm. Nhóm come, some, done, gone thì phải nhớ riêng, bù lại đó là những từ bạn gặp mỗi ngày.

Chữ c và chữ g: mềm hay cứng là do chữ đứng sau

Chữ c và chữ g mỗi chữ có hai cách đọc, và chữ cái đứng ngay sau quyết định chọn cách nào. Đứng trước e, i, y thì đọc mềm. Đứng trước a, o, u hoặc một phụ âm thì đọc cứng.

ChữĐọc làKhi nàoVí dụ kèm phiên âm
c mềm/s/trước e, i, ycity /ˈsɪti/, cell /sel/, cycle /ˈsaɪkl/, circle /ˈsɜːkl/, decide /dɪˈsaɪd/
c cứng/k/trước a, o, u hoặc phụ âmcat /kæt/, cold /kəʊld/, cup /kʌp/, class /klɑːs/, cream /kriːm/
g mềm/dʒ/trước e, i, ygym /dʒɪm/, giant /ˈdʒaɪənt/, gentle /ˈdʒentl/, energy /ˈenədʒi/, engine /ˈendʒɪn/
g cứng/ɡ/trước a, o, u hoặc phụ âmgame /ɡeɪm/, go /ɡəʊ/, gun /ɡʌn/, glass /ɡlɑːs/, green /ɡriːn/
g cứng, ngoại lệ/ɡ/trước e, i dù quy tắc nói mềmget /ɡet/, girl /ɡɜːl/, give /ɡɪv/, gift /ɡɪft/, begin /bɪˈɡɪn/, together /təˈɡeðə/
cc/ks/chữ c sau đứng trước e hoặc iaccept /əkˈsept/, accident /ˈæksɪdənt/, success /səkˈses/

Với chữ c, quy tắc này rất ít ngoại lệ và bạn dùng được như một luật. Với chữ g thì hụt nhiều hơn, và trớ trêu là các trường hợp hụt lại toàn từ thông dụng. Cách xử lý thực tế là coi c là quy tắc, còn g là quy tắc kèm một danh sách ngoại lệ ngắn cần thuộc.

Dòng cuối bảng hay bị bỏ qua: hai chữ c liền nhau mà chữ sau đứng trước e hoặc i thì bạn đọc cả hai, chữ đầu cứng và chữ sau mềm. Vì vậy accept có cả /k/ lẫn /s/.

Hậu tố kéo trọng âm đi chỗ khác

Tiếng Việt phát âm các âm tiết gần như đều nhau, mỗi âm tiết mang thanh điệu riêng và không âm tiết nào bị nuốt. Tiếng Anh làm khác: một âm tiết được nhấn rõ, các âm tiết còn lại co lại và nguyên âm của chúng thường tụt về /ə/. Người Việt quen đọc đều nên khi nghe thì không nhận ra chính từ mình biết.

Trọng âm cũng không đứng yên trong một họ từ. Thêm hậu tố vào là nó dời chỗ, và cả hình dáng âm thanh của từ đổi theo. Từ photograph là /ˈfəʊtəɡrɑːf/, nhấn âm tiết đầu. Từ photographer là /fəˈtɒɡrəfə/, nhấn âm tiết thứ hai, và nguyên âm đầu tụt xuống thành /ə/ mờ tịt. Từ photographic là /ˌfəʊtəˈɡræfɪk/, nhấn âm tiết thứ ba. Ba từ cùng một gốc, ba chỗ nhấn, và khi nghe thì chúng vang lên như ba từ không họ hàng gì với nhau.

Quy tắc gom lại được: các hậu tố -ic, -ical, -ity, -tion, -sion, -ial, -ian, -graphy, -logy kéo trọng âm về đúng âm tiết đứng ngay trước chúng.

Từ gốcPhiên âmTừ có hậu tốPhiên âm
photograph/ˈfəʊtəɡrɑːf/photographic/ˌfəʊtəˈɡræfɪk/
atom/ˈætəm/atomic/əˈtɒmɪk/
drama/ˈdrɑːmə/dramatic/drəˈmætɪk/
science/ˈsaɪəns/scientific/ˌsaɪənˈtɪfɪk/
strategy/ˈstrætədʒi/strategic/strəˈtiːdʒɪk/
educate/ˈedʒukeɪt/education/ˌedʒuˈkeɪʃn/
compete/kəmˈpiːt/competition/ˌkɒmpəˈtɪʃn/
inform/ɪnˈfɔːm/information/ˌɪnfəˈmeɪʃn/
able/ˈeɪbl/ability/əˈbɪləti/
active/ˈæktɪv/activity/ækˈtɪvəti/
electric/ɪˈlektrɪk/electricity/ɪˌlekˈtrɪsəti/
politics/ˈpɒlətɪks/political/pəˈlɪtɪkl/
history/ˈhɪstri/historical/hɪˈstɒrɪkl/
biology/baɪˈɒlədʒi/biological/ˌbaɪəˈlɒdʒɪkl/

Vài ngoại lệ đáng nhớ với -ic là Arabic, politics, arithmetic và lunatic. Những từ này giữ trọng âm ở phía đầu chứ không dời về ngay trước hậu tố.

Trọng âm còn một kiểu di chuyển nữa, giữa danh từ và động từ viết giống hệt nhau như record hay export. Kiểu đó đã có bảng riêng trong bài phát âm tiếng Anh. Còn chuyện các âm tiết không trọng âm co lại tới mức nào khi người ta nói nhanh thì thuộc về connected speech.

Những hậu tố tự cố định cách đọc

Một số đuôi từ đọc y hệt nhau ở mọi từ mang chúng. Thuộc chừng bảy đuôi dưới đây thì bạn xử được phần cuối của rất nhiều từ dài, và từ dài chính là chỗ người học hay ngập ngừng nhất.

ĐuôiĐọc làVí dụ kèm phiên âm
-tion/ʃən/nation /ˈneɪʃn/, information /ˌɪnfəˈmeɪʃn/, attention /əˈtenʃn/
-sion sau nguyên âm/ʒən/decision /dɪˈsɪʒn/, television /ˈtelɪvɪʒn/, confusion /kənˈfjuːʒn/, occasion /əˈkeɪʒn/
-sion sau phụ âm/ʃən/tension /ˈtenʃn/, mission /ˈmɪʃn/, discussion /dɪˈskʌʃn/, expression /ɪkˈspreʃn/
-stion/stʃən/question /ˈkwestʃən/, suggestion /səˈdʒestʃən/
-ture/tʃə/picture /ˈpɪktʃə/, future /ˈfjuːtʃə/, culture /ˈkʌltʃə/, temperature /ˈtemprətʃə/
-sure sau nguyên âm/ʒə/measure /ˈmeʒə/, pleasure /ˈpleʒə/, treasure /ˈtreʒə/
-sure sau phụ âm/ʃə/pressure /ˈpreʃə/

Đuôi -sion có hai cách đọc mà bạn phân biệt được bằng chữ đứng ngay trước nó: sau nguyên âm thì /ʒən/, sau phụ âm thì /ʃən/. Cặp -sure chia đôi theo đúng logic ấy.

Quyển vở bài tập mở kèm cây bút chì, minh hoạ cho việc học quy tắc đọc từ tiếng Anh
ĐuôiĐọc làVí dụ kèm phiên âm
-ous/əs/famous /ˈfeɪməs/, nervous /ˈnɜːvəs/, dangerous /ˈdeɪndʒərəs/, obvious /ˈɒbviəs/, enormous /ɪˈnɔːməs/
-cious, -tious/ʃəs/delicious /dɪˈlɪʃəs/, ambitious /æmˈbɪʃəs/
-age (từ gốc Anh)/ɪdʒ/village /ˈvɪlɪdʒ/, message /ˈmesɪdʒ/, package /ˈpækɪdʒ/, manage /ˈmænɪdʒ/, average /ˈævərɪdʒ/
-age (từ mượn tiếng Pháp)/ɑːʒ/massage /ˈmæsɑːʒ/, collage /ˈkɒlɑːʒ/, sabotage /ˈsæbətɑːʒ/

Đuôi -ous đọc nhẹ và mờ thành /əs/, không bao giờ ra /aʊs/. Lỗi này rất phổ biến và cũng dễ hiểu, vì cụm ou ở chỗ khác đúng là /aʊ/ thật.

Riêng đuôi -ate thì phải nhìn từ loại mới đọc đúng. Cùng một cách viết, danh từ và tính từ đọc /ət/, động từ đọc /eɪt/.

TừDanh từ hoặc tính từĐộng từNghĩa
separate/ˈseprət//ˈsepəreɪt/riêng biệt, tách ra
graduate/ˈɡrædʒuət//ˈɡrædʒueɪt/người tốt nghiệp, tốt nghiệp
estimate/ˈestɪmət//ˈestɪmeɪt/bản ước tính, ước tính
moderate/ˈmɒdərət//ˈmɒdəreɪt/vừa phải, điều tiết
appropriate/əˈprəʊpriət//əˈprəʊprieɪt/phù hợp, trưng dụng
duplicate/ˈdjuːplɪkət//ˈdjuːplɪkeɪt/bản sao, nhân bản
delegate/ˈdelɪɡət//ˈdelɪɡeɪt/đại biểu, uỷ quyền
deliberate/dɪˈlɪbərət//dɪˈlɪbəreɪt/cố ý, cân nhắc kỹ

Câu "We need to separate the two files" và câu "They are separate files" viết giống nhau ở chữ separate mà đọc khác nhau. Chiều ngược lại cũng có ích cho tai bạn: nghe ra /ˈsepəreɪt/ thì đó là động từ, nghe ra /ˈseprət/ thì đó là tính từ.

Cặp nguyên âm, chỗ quy tắc lỏng tay nhất

Hai nguyên âm đứng cạnh nhau là chỗ tiếng Anh mất trật tự nhất. Một cụm có thể ra ba bốn âm khác nhau và mặt chữ không cho manh mối nào để chọn. Cách học thực tế là nhớ danh sách các khả năng, rồi gắn mỗi khả năng với vài từ bạn đã biết sẵn.

CụmĐọc làVí dụ kèm phiên âm
ea/iː/eat /iːt/, team /tiːm/, speak /spiːk/, season /ˈsiːzn/
ea/e/bread /bred/, head /hed/, ready /ˈredi/, weather /ˈweðə/, health /helθ/
ea/eɪ/great /ɡreɪt/, break /breɪk/, steak /steɪk/
ea trước r/ɜː/learn /lɜːn/, earth /ɜːθ/, early /ˈɜːli/
ee/iː/see /siː/, meet /miːt/, three /θriː/, green /ɡriːn/, sleep /sliːp/
oo/ʊ/book /bʊk/, look /lʊk/, good /ɡʊd/, foot /fʊt/, cook /kʊk/
oo/uː/food /fuːd/, moon /muːn/, school /skuːl/, tooth /tuːθ/, choose /tʃuːz/
oo/ʌ/blood /blʌd/, flood /flʌd/
oo trước r/ɔː/door /dɔː/, floor /flɔː/

Cụm ee ổn định hơn hẳn phần còn lại, đọc /iː/ trong hầu hết từ thông dụng. Cụm ea có ba cách đọc chính, và cặp read hiện tại /riːd/ với read quá khứ /red/ nằm gọn trong hai cách đầu.

Cụm oo có một mẹo nhỏ đáng tin: đi liền với chữ k thì đọc ngắn /ʊ/, như book, look, cook, took, shook, hook. Ngoài trường hợp đó thì phải nhớ theo từng nhóm từ.

CụmĐọc làVí dụ kèm phiên âm
ou/aʊ/house /haʊs/, about /əˈbaʊt/, sound /saʊnd/, mouth /maʊθ/
ou/ʌ/country /ˈkʌntri/, young /jʌŋ/, touch /tʌtʃ/, couple /ˈkʌpl/, trouble /ˈtrʌbl/
ou/uː/group /ɡruːp/, soup /suːp/, through /θruː/
ou/ʊ/could /kʊd/, would /wʊd/, should /ʃʊd/
ow/aʊ/now /naʊ/, how /haʊ/, down /daʊn/, town /taʊn/
ow/əʊ/know /nəʊ/, show /ʃəʊ/, window /ˈwɪndəʊ/, yellow /ˈjeləʊ/, follow /ˈfɒləʊ/
ai/eɪ/rain /reɪn/, train /treɪn/, wait /weɪt/, main /meɪn/
ay/eɪ/day /deɪ/, play /pleɪ/, stay /steɪ/, away /əˈweɪ/
-ain không trọng âm/ɪn/ hoặc /ən/mountain /ˈmaʊntɪn/, captain /ˈkæptɪn/, certain /ˈsɜːtn/

Cụm ow có một điểm tựa dùng được: nằm cuối một từ hai âm tiết thì nó thường là /əʊ/, như window, yellow, follow, tomorrow, borrow. Ở từ một âm tiết thì chia đôi, now và how một bên, know và show một bên.

Cặp ai với ay chia việc theo vị trí: ai nằm giữa từ, ay nằm ở cuối, cả hai đọc /eɪ/. Hai ngoại lệ đáng nhớ vì bạn dùng chúng hàng ngày là said /sed/ và says /sez/.

Nhóm ough, chỗ phải học thuộc

Cụm ough không có quy tắc. Nó có sáu cách đọc trở lên và mặt chữ không hé lộ gì để bạn chọn, nên cách duy nhất là học thuộc từng từ.

TừPhiên âmNghĩa
though/ðəʊ/mặc dù
dough/dəʊ/bột nhào
through/θruː/xuyên qua
tough/tʌf/khó, dai
rough/rʌf/thô, gồ ghề
enough/ɪˈnʌf/đủ
cough/kɒf/ho
thought/θɔːt/ý nghĩ, đã nghĩ
bought/bɔːt/đã mua
bough/baʊ/cành cây lớn
thorough/ˈθʌrə/kỹ lưỡng
borough/ˈbʌrə/quận, khu hành chính

An ủi duy nhất là danh sách này ngắn và đóng, sẽ không có từ mới nào gia nhập nữa. Nếu bạn muốn biết vì sao một cụm bốn chữ cái lại ra được ngần ấy âm, phần lịch sử nằm trong bài về âm câm.

Đuôi -ed và đuôi -s đọc theo âm đứng trước

Hai đuôi này bị coi nhẹ vì chúng không đổi nghĩa của từ. Chúng lại là chỗ tiếng Anh giấu thì và số nhiều, và người Việt hay nuốt luôn cả hai.

Điều quan trọng nhất về đuôi -ed: cách đọc phụ thuộc vào âm đứng trước nó, không phải chữ cái. Chỉ khi động từ kết thúc bằng âm /t/ hoặc /d/ thì -ed mới thành một âm tiết riêng /ɪd/. Mọi trường hợp còn lại, nó chỉ là một phụ âm dính thêm vào cuối từ.

Đọc làKhi âm cuối của động từ làVí dụ kèm phiên âm
/ɪd//t/ hoặc /d/wanted /ˈwɒntɪd/, needed /ˈniːdɪd/, decided /dɪˈsaɪdɪd/, started /ˈstɑːtɪd/, visited /ˈvɪzɪtɪd/
/t/âm vô thanh khác /t/: /p f k s ʃ tʃ θ/stopped /stɒpt/, worked /wɜːkt/, watched /wɒtʃt/, finished /ˈfɪnɪʃt/, laughed /lɑːft/, asked /ɑːskt/
/d/âm hữu thanh khác /d/, kể cả nguyên âmplayed /pleɪd/, called /kɔːld/, opened /ˈəʊpənd/, listened /ˈlɪsnd/, arrived /əˈraɪvd/, changed /tʃeɪndʒd/

Chữ viết đánh lừa khá nhiều ở đây. Từ laughed kết thúc bằng cụm ed nhưng âm trước nó là /f/, nên nó là /lɑːft/. Từ liked có chữ e ở giữa mà không có âm nào ở đó, /laɪkt/, một âm tiết. Ở chiều ngược lại, thói quen thêm /ɪd/ vào mọi động từ khiến worked bị đọc thành hai âm tiết, và người nghe phải dừng lại đoán bạn vừa nói từ gì.

Đuôi -s chia ba theo đúng logic đó.

Đọc làKhi âm cuối của từ làVí dụ kèm phiên âm
/ɪz/âm xuýt: /s z ʃ ʒ tʃ dʒ/buses /ˈbʌsɪz/, boxes /ˈbɒksɪz/, watches /ˈwɒtʃɪz/, pages /ˈpeɪdʒɪz/, dishes /ˈdɪʃɪz/
/s/âm vô thanh: /p t k f θ/books /bʊks/, cats /kæts/, maps /mæps/, months /mʌnθs/, stops /stɒps/
/z/âm hữu thanh và nguyên âmdogs /dɒɡz/, pens /penz/, keys /kiːz/, jobs /dʒɒbz/, girls /ɡɜːlz/

Trong khâu nghe, đây là chỗ mất thông tin nhiều nhất. Câu "He works here" và câu "He worked here" khác nhau đúng một phụ âm cuối, /s/ với /t/, và cả hai đều rất nhẹ. Tai chưa quen bắt phụ âm cuối thì dấu hiệu thời gian của cả câu biến mất, và bạn hiểu đúng nội dung nhưng sai thời điểm.

Những từ mặt chữ đánh lừa

Còn một nhóm từ không quy tắc nào cứu được, vì cách viết và cách đọc đã trôi quá xa nhau. Xui ở chỗ nhiều từ trong nhóm này lại là từ dùng hàng ngày.

Phần lớn chúng có chung một cơ chế chứ không hoàn toàn ngẫu nhiên: một âm tiết không mang trọng âm nằm giữa từ bị rụng hẳn khi nói. comfortable rụng âm tiết thứ hai, vegetable rụng âm tiết thứ ba, chocolate và interesting cũng vậy.

TừPhiên âmNghĩaChỗ đánh lừa
Wednesday/ˈwenzdeɪ/thứ Tưchữ d ở giữa biến mất hoàn toàn
comfortable/ˈkʌmftəbl/thoải máiba âm tiết chứ không phải bốn
vegetable/ˈvedʒtəbl/rau củâm tiết ge ở giữa rụng mất
chocolate/ˈtʃɒklət/sô cô lahai âm tiết, không phải ba
business/ˈbɪznəs/công việc, kinh doanhhai âm tiết, chữ i thứ hai không đọc
interesting/ˈɪntrəstɪŋ/thú vịba âm tiết, trọng âm ở ngay đầu
restaurant/ˈrestrɒnt/nhà hàngchữ au ở giữa gần như biến mất
February/ˈfebruəri/tháng Haichữ r thứ nhất thường bị bỏ khi nói nhanh
Tuesday/ˈtjuːzdeɪ/thứ Babắt đầu bằng /tj/, giọng Mỹ đọc /ˈtuːzdeɪ/
colonel/ˈkɜːnl/đại táđọc y hệt từ kernel, không có âm /l/ ở giữa
iron/ˈaɪən/sắt, bàn làchữ r không bật ra trong giọng Anh Anh
clothes/kləʊðz/quần áonghe gần như trùng với close
cupboard/ˈkʌbəd/tủ chén bátchữ p câm, hai từ cũ dính vào nhau
salmon/ˈsæmən/cá hồichữ l không đọc
choir/ˈkwaɪə/dàn hợp xướngcụm ch đọc thành /kw/
suite/swiːt/dãy phòng, bộtrùng âm với sweet

Wednesday, colonel và iron thì đúng là lịch sử để lại, không có cơ chế nào đoán ra được. Nếu công việc của bạn có lúc phải đọc tên hoặc địa chỉ email qua điện thoại, tên gọi của từng chữ cái lại là chuyện khác nữa, và bài bảng chữ cái tiếng Anh có phần đó cùng bảng NATO.

Đoán xong vẫn phải nghe mới biết mình đúng

Mọi quy tắc phía trên cho bạn một giả thuyết về cách một từ vang lên, và chỉ cái tai xác nhận được giả thuyết đó.

Chỗ nguy hiểm nhất là những từ bạn đã đọc nhiều năm mà chưa từng nghe ai đọc. Trong đầu bạn chúng có một cách phát âm, dựng lên từ mặt chữ hồi mới học, rồi nằm yên ở đó. Không ai sửa cả, vì bạn có nói chúng ra đâu. Đến khi từ ấy xuất hiện trong một câu nói bình thường, bạn nghe qua mà không nhận ra chính từ mình hiểu rõ nghĩa.

Nghe chép chính tả tìm ra đúng những từ đó, vì nó buộc bạn viết xuống thứ bạn nghĩ mình vừa nghe. Khoảng cách giữa chỗ bạn chép và transcript thật chính là danh sách các từ đang nằm sai trong đầu bạn.

Ví dụ cụ thể. Câu audio có chữ comfortable, bạn nghe được ba tiếng đi rất nhanh và chép thành comftable, hoặc bỏ trống vì không kịp. Mở transcript ra thì thấy đó là comfortable, và ngay lúc ấy bạn biết cách đọc bốn âm tiết mình vẫn dùng thầm mấy năm nay là do mình tự chế.

Một ví dụ khác thuộc phần đuôi -ed. Câu "He asked me last week" nói tự nhiên thì cụm /skt/ dính vào /m/ và phần đuôi gần như biến mất, nên bạn chép thành "He ask me last week". Nhìn lại transcript thấy chữ ed ở đó, và lần sau tai bạn bắt đầu chờ nó. Lặp lại vài lần thì phản xạ đổi, không cần học thuộc thêm quy tắc nào.

Thư viện podcast trên WELE có transcript đi kèm từng câu, nên vòng nghe rồi chép rồi đối chiếu chạy được ngay. Nếu bạn chưa rõ nên bắt đầu ở mức nào, bài test trình độ nghe mất vài phút, còn quy trình năm bước mô tả cách chép một đoạn cho ra kết quả.

Câu hỏi thường gặp

Học quy tắc đọc có đủ để phát âm chuẩn không?

Không đủ. Quy tắc cho bạn biết một từ đáng lẽ nghe ra sao, còn việc miệng bạn tạo ra đúng âm đó là kỹ năng khác, phụ thuộc vị trí lưỡi, khẩu hình và luồng hơi. Hai việc này bổ trợ nhau chứ không thay nhau, và phần tạo âm nằm ở bài phát âm tiếng Anh.

Vì sao mình biết nghĩa của từ mà nghe vẫn không ra?

Thường vì cách đọc lưu trong đầu bạn khác với cách từ đó thực sự vang lên, hoặc vì trọng âm bạn đặt sai chỗ nên hình dáng âm thanh của từ lệch đi. Từ vựng học qua mắt được lưu ở dạng chữ viết, còn khi nghe bạn cần nó ở dạng âm thanh.

Nên tra IPA hay nghe từ điển đọc mẫu?

Làm cả hai trong cùng một lần tra. Cambridge Dictionary và Oxford Learner Dictionaries đều có phiên âm kèm audio cho cả giọng Anh và giọng Mỹ. Muốn nghe từ đó nằm trong câu nói thật thì Youglish và Forvo tiện hơn.

Nên theo giọng Anh hay giọng Mỹ?

Chọn một giọng để luyện nói và giữ nhất quán, còn khi nghe thì bạn cần quen cả hai vì bạn không chọn được người nói chuyện với mình. Ba chỗ khác nhau rõ nhất là chữ r cuối từ, nguyên âm trong class hay dance, và chữ t nằm giữa hai nguyên âm trong water hay better.

Trẻ em bản xứ có học những quy tắc này không?

Có, ở trường tiểu học các em học phonics, đúng những nhóm quy tắc trong bài. Khác biệt nằm ở hướng đi: các em đã có sẵn âm trong đầu và đang học cách viết âm đó ra, còn bạn đi ngược lại, từ chữ viết dựng lại âm thanh. Đó là lý do bước nghe không thể bỏ qua.

Cách dùng bài này hợp lý nhất là để cạnh chỗ bạn đọc tiếng Anh hàng ngày: gặp từ lạ thì đoán theo quy tắc trước, rồi nghe một lần để xác nhận. Làm vậy vài tuần thì số từ đang nằm sai trong đầu bạn giảm dần. Học từ trong ngữ cảnh khiến bước xác nhận đó xảy ra tự nhiên hơn là ngồi tra từng từ một.

WELE Team
Đội ngũ WELE viết về nghe chép chính tả, luyện nghe và cách tự học tiếng Anh bền bỉ.